TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

GIỚI THIỆU SÁCH HAY NÊN ĐỌC

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Chau_Au.jpg TG10.jpg CangBien.jpg

    VIDEO GIỚI THIỆU SÁCH CỦA THƯ VIỆN

    ĐIỀU CHÚNG MÌNH CHƯA BIẾT

    Những anh hùng sống mãi ở lứa tuổi 20 | Hoàng Lan

    Ban thiet ke vi dai

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Vũ Thị Thanh Tuyền
    Ngày gửi: 11h:23' 04-05-2024
    Dung lượng: 5.1 MB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    STEPHEN HAWKING& LEONARD MLODINOW
    BẢN THIẾT KẾVĨ ĐẠI
    TRẦN NGHIÊM dịch
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    1 - Bí ẩn của sự tồn tại
    Mỗi người chúng ta tồn tại nhưng chỉ tồn tại trong một thời
    gian ngắn, và trong thời gian đó chúng ta khám phá nhưng chỉ
    khámphámộtphầnnhỏcủatoànbộvũtrụ. Nhưngconngười vốn là
    giống loài hiếu kì. Chúng ta muốn biết, và chúng ta đi tìm
    những câu trả lời. Sống trong thế giới rộng lớn đã phân chia
    thành thiện và ác này, và săm soi vào bầu trời bát ngát phía
    trên đầu, con người luôn luôn nghi vấn biết bao nhiêu câu hỏi:
    Làm thế nào chúng ta có thể tìm hiểu thế giới mà chúng ta tìm
    thấy bản thân mình trong đó? Vũ trụ hành xử như thế nào?
    Bản chất của thực tại là gì?
    Tất cả những cái này từ đâu mà có? Vũ trụ có cần một đấng
    sáng tạo không? Đa số chúng ta không mất nhiều thời gian
    trong quãng đời mình để lo ngại về những câu hỏi này, nhưng
    hầu như tất cả chúng ta đều lo ngại về chúng vào lúc này hay
    lúc khác.
    Thường thì đây là những câu hỏi dành cho triết học, nhưng
    triết học không còn sinh sôi nữa. Triết học không đuổi kịp các
    phát triển hiện đại trong khoa học, đặc biệt là vật lí học. Các
    nhà khoa học đã trở thành những người cầm đuốc khám phá
    trong công cuộc đi tìm tri thức của chúng ta. Mục đích của
    cuốn sách này là đưa ra những câu trả lời mà những khám phá
    và tiến bộ lí thuyết gần đây đề xuất. Chúng dẫn chúng ta đến
    với một bức tranh mới của vũ trụ và vai trò của chúng ta trong
    đó rất khác với vai trò truyền thống xưa nay và thậm chí còn
    khác với bức tranh mà chúng ta đã có thể vẽ ra cách đây một
    hoặc hai thập kỉ trước. Tuy nhiên, những phác họa đầu tiên của
    quan điểm mới đó về vũ trụ có thể lần ngược dòng lịch sử về
    cách nay gần một thế kỉ trước.
    Theo quan niệm truyền thống của vũ trụ, các vật thể chuyển
    động trên những lộ trình rõ ràng và có lịch sử xác định. Chúng
    ta có thể chỉ rõ vị trí chính xác của chúng tại mỗi thời điểm
    trong thời gian. Mặc dù mô tả đó đủ thành công cho những
    mục đích hàng ngày, nhưng vào thập niên 1920, người ta nhận
    ra rằng bức tranh “cổ điển” này không thể nào mô tả cho hành

    trạng có vẻ kì quái quan sát thấy ở cấp bậc nguyên tử và hạ
    nguyên tử của sự tồn tại. Thay vào đó, điều cần thiết là thừa
    nhận một khuôn khổ khác, gọi là vật lí lượng tử. Các lí thuyết
    lượng tử hóa ra hết sức chính xác trong việc tiên đoán các sự
    kiện ở những cấp bậc đó, đồng thời còn tái dựng các tiên đoán
    của các lí thuyết cổ điển cũ kĩ khi áp dụng cho thế giới vĩ mô
    của cuộc sống hàng ngày. Nhưng vật lí lượng tử và vật lí cổ
    điển xây dựng trên những quan niệm rất khác nhau của thực
    tại vật chất.

    “… Và đó là triết lí của tôi”
    Các lí thuyết lượng tử có thể thiết lập theo nhiều cách khác
    nhau, nhưng cái có lẽ là mô tả trực quan nhất mang lại bởi
    Richard (Dick) Feynman, một nhân vật đa tài làm việc tại Viện
    Công nghệ California và là một tay trống bongo cừ khôi. Theo
    Feynman, một hệ không chỉ có một lịch sử mà có mọi lịch sử
    khả dĩ. Khi chúng ta đi tìm những câu trả lời của mình, chúng
    ta sẽ giải thích cách tiếp cận của Feynman một cách chi tiết, và
    dùng nó để khảo sát quan điểm cho rằng vũ trụ tự nó không có
    một lịch sử đơn nhất, thậm chí không có một sự tồn tại độc
    lập. Điều đó có vẻ như một ý tưởng triệt để, thậm chí với
    nhiều nhà vật lí. Thật vậy, giống như nhiều quan điểm trong
    khoa học ngày nay, nó có vẻ như vi phạm giác quan thông
    thường. Nhưng giác quan thông thường dựa trên kinh nghiệm
    hàng ngày, chứ không dựa trên vũ trụ như nó hé lộ qua các
    thành tựu của công nghệ như các thành tựu cho phép chúng ta
    săm soi vào thế giới nguyên tử hoặc nhìn ngược về vũ trụ sơ
    khai.
    Cho đến khi ra đời vật lí học hiện đại, người ta thường nghĩ
    rằng toàn bộ kiến thức về thế giới có thể thu được qua sự quan
    sát trực tiếp, rằng mọi thứ là cái như chúng trông như vậy, như

    được cảm nhận qua các giác quan của chúng ta. Nhưng sự
    thành công ngoạn mục của vật lí học hiện đại, nền khoa học
    xây dựng trên các quan niệm như quan niệm của Feynman
    xung đột với kinh nghiệm hàng ngày, chứng tỏ rằng suy nghĩ
    như thế là chưa đúng. Cái nhìn chất phác như thế của thực tại,
    do đó, không tương thích với vật lí học hiện đại. Để xử lí
    những nghịch lí như vậy, chúng ta sẽ chấp nhận một phương
    pháp ta gọi là thuyết duy thực phụ thuộc mô hình. Nó xây
    dựng trên quan niệm cho rằng não của chúng ta giải mã tín
    hiệu thu vào bởi các cơ quan cảm giác của chúng ta bằng cách
    tạo ra một mô hình của thế giới. Khi một mô hình như vậy
    thành công ở việc giải thích các sự kiện, chúng ta có xu hướng
    gán cho nó, và cho các bộ phận và khái niệm cấu thành nên
    nó, chất lượng của thực tại hay sự thật tuyệt đối. Nhưng có thể
    có những phương pháp khác trong đó người ta có thể lập mô
    hình tình huống vật lí giống như vậy, với mỗi mô hình sử dụng
    các bộ phận và khái niệm cơ bản khác nhau. Nếu hai lí thuyết
    hay hai mô hình vật lí như vậy tiên đoán chính xác những sự
    kiện như nhau, thì người ta không thể nói mô hình này thực tế
    hơn mô hình kia; thay vào đó, chúng ta tùy ý sử dụng mô hình
    nào tiện lợi nhất đối với mình.
    Trong lịch sử khoa học, chúng ta đã và đang khám phá ra một
    chuỗi những lí thuyết hay mô hình ngày một tốt hơn, từ Plato
    đến lí thuyết Newton cổ điển đến các lí thuyết vật lí hiện đại.
    Liệu chuỗi khám phá này cuối cùng có đạt tới một điểm kết,
    một lí thuyết tối hậu của vũ trụ, lí thuyết sẽ bao gồm hết các
    lực và tiên đoán mọi quan sát mà chúng ta có thể thực hiện,
    hay là chúng ta sẽ tiếp tục tìm thấy những lí thuyết tốt hơn nữa
    mãi mãi, và không bao giờ có một lí thuyết nào mà không thể
    nào cải tiến thêm nữa? Cho đến nay, chúng ta chưa có một câu
    trả lời dứt khoát cho câu hỏi này, nhưng hiện tại chúng ta đã có
    một ứng cử viên cho lí thuyết tối hậu của mọi thứ, nếu thật sự
    một lí thuyết như vậy có tồn tại, gọi là lí thuyết M. Lí thuyết
    M là mô hình duy nhất có mọi tính chất mà chúng ta nghĩ lí
    thuyết tối hậu sẽ phải có, và nó là lí thuyết mà phần lớn nội
    dung thảo luận của chúng ta ở phần sau xây dựng trên đó.

    Lí thuyết M không phải là một lí thuyết theo ý nghĩa thông
    thường. Nó là cả một họ gồm những lí thuyết khác nhau, mỗi
    một lí thuyết đó là một mô tả tốt của những quan sát chỉ trong
    một chừng mực nào đó của các tình huống vật lí.
    Nó có chút gì đó giống như một tấm bản đồ. Như ai cũng biết,
    người ta không thể nào thể hiện toàn bộ bề mặt của trái đất
    trên một tấm bản đồ. Phép chiếu Mercator bình thường dùng
    cho bản đồ thế giới tạo ra những vùng trông mỗi lúc một lớn
    hơn ở xa về phía bắc và phía nam, nhưng không bao quát Cực
    Bắc và Cực Nam. Để lập bản đồ đầy đủ của toàn bộ trái đất,
    người ta phải sử dụng một tập hợp bản đồ, mỗi bản đồ bao
    quát một khu vực hạn chế. Các bản đồ chồng lên nhau, và ở
    nơi chúng chồng lên nhau, chúng thể hiện diện mạo giống như
    nhau. Lí thuyết M tương tự như vậy. Những lí thuyết khác
    nhau trong họ hàng lí thuyết M có thể trông rất khác nhau,
    nhưng chúng đều có thể xem là những khía cạnh của cùng một
    lí thuyết cơ sở. Chúng là các phiên bản của lí thuyết chỉ có khả
    năng áp dụng trong những ngưỡng hạn chế - thí dụ, khi những
    đại lượng nhất định, như năng lượng, là nhỏ. Giống như các
    tấm bản đồ chồng lên nhau trong phép chiếu Mercator, nơi các
    vùng thuộc những phiên bản khác nhau chồng lấn, chúng tiên
    đoán các hiện tượng giống như nhau. Nhưng giống hệt như
    việc không có tấm bản đồ phẳng nào là đại diện tốt cho toàn
    bộ bề mặt của trái đất, không có một lí thuyết đơn lẻ nào là đại
    diện tốt của các quan sát trong mọi tình huống.

    Bản đồ thế giới. Có thể cần đến một loạt những lí thuyết
    chồng lấn lên nhau để thể hiện vũ trụ, giống hệt như việc cần
    có nhiều tấm bản đồ chồng lên nhau để thể hiện toàn bộ bề
    mặt trái đất.

    Chúng ta sẽ mô tả lí thuyết M có thể mang lại những câu trả
    lời như thế nào cho câu hỏi sáng tạo. Theo lí thuyết M, vũ trụ
    của chúng ta không phải là vũ trụ duy nhất. Thay vào đó, lí
    thuyết M tiên đoán rằng có rất nhiều vũ trụ đã sinh ra từ trống
    rỗng. Sự sáng tạo của chúng không đòi hỏi sự can thiệp của
    một thế lực siêu nhiên hay thần thánh nào hết. Thay vào đó,
    các đa vũ trụ này phát sinh tự nhiên từ quy luật vật lí. Chúng là
    một dự đoán của khoa học. Mỗi vũ trụ có nhiều lịch sử khả dĩ
    và nhiều trạng thái khả dĩ ở những thời điểm sau này, nghĩa là
    ở những thời điểm như hiện nay, đã lâu sau sự sáng tạo của
    chúng. Đa số những trạng thái này sẽ có chút không giống với
    vũ trụ mà chúng ta quan sát thấy và khá không thích hợp cho
    sự tồn tại của bất kì dạng thức sống nào. Chỉ rất rất ít vũ trụ sẽ
    cho phép những loài sinh vật như chúng ta tồn tại mà thôi. Vì
    thế, sự có mặt của chúng ta chọn ra từ vô số những vũ trụ này
    chỉ những vũ trụ có khả năng tương thích với sự tồn tại của
    chúng ta. Mặc dù loài người chúng ta nhỏ bé và yếu đuối ở cấp
    bậc vũ trụ, nhưng chính điều này mang lại cho chúng ta cảm
    giác mình là những vị vua của tạo hóa.
    Để tìm hiểu vũ trụ ở cấp độ sâu sắc nhất, chúng ta cần phải
    biết không những vũ trụ hành xử như thế nào, mà còn phải
    hiểu tạ i sao nữa.
    Tạ i sao lạ i có cái gì đ ó chứ chẳ ng phả i hư vô cả ?
    Tạ i sao chúng ta tồ n tạ i?
    Tạ i sao lạ i là tậ p hợ p nhữ ng quy luậ t đặ c biệ t này chứ chẳ
    ng phả i nhữ ng quy luậ t nào khác?
    Đây là Câu hỏi Tối hậu của Cuộc sống, Vũ trụ, và Mọi thứ.
    Chúng ta sẽ cố gắng trả lời nó trong quyển sách này. Không
    giống như câu trả lời có trong cuốn Tìm hiể u Thiên hà của
    Hitchhiker, câu trả lời của chúng ta sẽ không đơn giản là “42”.

    2 - Vai trò của quy luật
    Chú sói Skoll xua đ uổ i Mặ t tră ng Cho đế n khi chú bay lên
    Khu rừ ng Đ au buồ n Còn sói Hati, họ Hridvirnir Thì ráo riế t
    theo đ uổ i Mặ t trờ i “Grimnismal” – Văn thơ Băng đảo cổ
    rong thần thoại của người Viking, Skoll và Hati săn đuổi mặt
    trời và mặt trăng. Khi hai con sói bắt gặp nhau, thì có một kì
    nhật Tnguyệtthực. Khihiệntượngnàyxảyra,
    mọingườitrêntráiđấtđổ xô đi cứu mặt trời hoặc mặt trăng bằng
    cách la hét càng ồn ào càng tốt nhằm xua đuổi lũ sói. Có
    những câu chuyện thần thoại na ná như vậy trong những nền
    văn hóa khác nhau. Nhưng sau một thời gian, người ta phải để
    ý thấy rằng mặt trời và mặt trăng sớm hiện ra khỏi pha nhật
    nguyệt thực, cho dù họ có chạy vòng quanh, la hét, và gõ tung
    mọi thứ lên hay không. Sau một thời gian, họ cũng phải để ý
    thấy rằng nhật nguyệt thực không chỉ xảy ra một cách ngẫu
    nhiên: Chúng xuất hiện đều đặn, với chu kì lặp lại hẳn hoi.
    Những chu kì lặp lại này dễ thấy nhất đối với hiện tượng
    nguyệt thực và đã cho phép những người Babylon cổ đại dự
    báo nguyệt thực khá chính xác mặc dù họ không nhận ra được
    rằng chúng có nguyên do là bởi trái đất chặn mất ánh sáng của
    mặt trời.
    Nhật thực thì khó dự báo hơn vì chúng chỉ có thể trông thấy ở
    những dải hẹp trên trái đất rộng chừng 30 dặm thôi. Tuy nhiên,
    một khi đã hiểu thấu, thì rõ ràng chu kì nhật thực không phụ
    thuộc vào ý thích tùy hứng của các thế lực siêu nhiên, mà bị
    chi phối bởi những quy luật nào đó.
    Bất chấp một số thành công buổi đầu trong việc dự đoán
    chuyển động của các thiên thể, đa số các sự kiện trong tự
    nhiên trước con mắt của tổ tiên chúng ta là không thể nào dự
    báo trước được. Núi lửa, động đất, bão tố, dịch bệnh, và móng
    chân mọc ngược vào trong dường như xảy ra mà chẳng có
    nguyên do rõ ràng hay chu kì lặp lại nào hết. Vào thời cổ đại,
    cái người ta tự nhiên nghĩ đến là quy các tác động dữ dội của
    tự nhiên cho một vị thần tinh nghịch hay những vị chúa trời ác
    tính. Các tai họa được xem là dấu hiệu của việc chúng ta đã
    làm điều gì đó xúc phạm đến chúa trời. Thí dụ, vào khoảng 8

    năm 5600 tCN, núi lửa Mazama ở Oregon bùng nổ, gieo vãi
    đất đá và tro bụi trong nhiều năm, và dẫn tới nhiều năm mưa
    rào cuối cùng gây ngập miệng núi lửa ngày nay gọi là Hồ
    Miệng núi lửa. Những người thổ dân Klamath xứ Oregon có
    một truyền thuyết phù hợp chính xác với từng chi tiết địa chất
    của sự kiện trên, nhưng thêm thắt một chút hư cấu với việc
    miêu tả một người là nguyên nhân gieo rắc tai ương. Tội lỗi
    của con người là người ta luôn có thể tìm ra những cách để tự
    khiển trách. Như truyền thuyết kể lại, Llao, chúa tể Địa ngục,
    đã phải lòng cô con gái xinh đẹp tuyệt trần của một thủ lĩnh
    Klamath. Cô gái cự tuyệt vị chúa tể, cho nên để trả thù, Llao
    muốn thiêu trụi xứ Klamath trong biển lửa. May thay, theo
    truyền thuyết, Skell, vị chúa tể Thiên đường, đã thương xót
    loài người và ra tay đấu sức với vị chúa tể cõi âm. Cuối cùng
    thì Llao bị thương và rơi trở vào trong ngọn Mazama, để lại
    một cái hố khổng lồ, và miệng hố ấy cuối cùng thì chứa đầy
    nước.

    Nhật thực. Người xưa không biết nguyên nhân gây ra nhật
    thực, nhưng họ thật sự để ý đến sự xuất hiện có chu kì của
    chúng.
    Sự thiếu hiểu biết trước các hiện tượng tự nhiên đã đưa những
    con người thời cổ đại phát minh ra thần thánh và tôn vinh các
    thế lực siêu nhiên trong mọi mặt đời sống của con người. Có
    các vị thần tình yêu và chiến tranh; thần mưa 9
    và thần sấm; kể cả thần động đất và thần núi lửa. Khi các vị
    thần vui vẻ, thì loài người được hưởng thời tiết tốt, hòa bình,
    và không phải hứng chịu thảm họa thiên nhiên và bệnh tật. Khi
    các vị thần bực dọc, thì xảy ra hạn hán, chiến tranh, dịch hạch
    và các loại dịch bệnh. Vì mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên
    không hiện rõ trước con mắt của họ, nên những vị thần này có

    vẻ thật bí hiểm, và loài người sống nhờ vào lòng nhân đức của
    họ. Nhưng với Thales xứ Miletus (khoảng 624 tCN – khoảng
    546 tCN) , cách nay chừng 2600 năm trước, điều đó bắt đầu
    thay đổi. Quan điểm nảy sinh là tự nhiên tuân thủ những
    nguyên tắc phù hợp có thể hiểu được. Và vì thế bắt đầu quá
    trình lâu dài là thay thế quan niệm về thế giới thần thánh bằng
    quan niệm về một vũ trụ bị chi phối bởi các quy luật tự nhiên,
    và được tạo ra theo một bản thiết kế mà một ngày nào đó
    chúng ta sẽ có thể đọc ra được.
    Nhìn theo tiến trình lịch sử nhân loại, sự thẩm tra khoa học là
    một nỗ lực rất mới. Giống loài của chúng ta, Homo sapiens, có
    gốc gác ở vùng hạ Sahara thuộc châu Phi khoảng năm 200.000
    tCN. Ngôn ngữ viết chỉ có niên đại khoảng năm 7000 tCN, là
    sản phẩm của các xã hội quần tụ xung quanh những khu vực
    trồng ngũ cốc. (Một số chữ khắc cổ thậm chí nói về khẩu phần
    bia hàng ngày cho phép đối với từng người dân) Những bản
    viết tay sớm nhất từ nền văn minh vĩ đại thuộc Hi Lạp cổ đại
    có niên đại vào thế kỉ thứ 9 tCN, nhưng đỉnh cao của nền văn
    minh đó, “thời kì cổ điển” , xuất hiện vài trăm năm sau đó, bắt
    đầu đâu đó trước năm 500 tCN. Theo Aristotle (384 tCN – 322
    tCN) , khoảng thời gian đó Thales đã lần đầu tiên phát triển ý
    tưởng cho rằng thế giới là có thể hiểu được, rằng những thứ
    phức tạp diễn ra xung quanh chúng ta có thể giản lược thành
    những nguyên lí đơn giản hơn và giải thích được mà không
    cần viện dẫn những yếu tố hoang đường hoặc thần thánh.
    Thales được sử sách ghi nhận là người đầu tiên dự báo nhật
    thực xảy ra vào năm 585 tCN, mặc dù độ chính xác lớn của cái
    ông dự đoán có khả năng chỉ là một sự may mắn tình cờ. Ông
    là một nhân vật không rõ ràng tung tích, vì ông chẳng để lại
    bản viết nào của riêng ông cả. Ngôi nhà của ông là một trong
    những trung tâm trí tuệ nằm trong một vùng gọi là Ionia, xứ
    xở thuộc địa của Hi Lạp, và có sức ảnh hưởng cuối cùng lan
    tỏa đến tận Thổ Nhĩ Kì và Italy ở phía tây xa xôi. Nền khoa
    học Ionia là một thành tựu được đánh dấu bởi sự say mê cao
    độ trong việc hé lộ các quy luật cơ bản nhằm giải thích các
    hiện tượng tự nhiên, một mốc son chói lọi trong lịch sử tư
    tưởng của loài người. Cách tiếp cận của họ là duy lí và trong

    nhiều trường hợp đưa đến những kết luận giống một cách bất
    ngờ với cái mà các phương pháp phức tạp hơn của chúng ta
    đưa chúng ta đến chỗ tin tưởng như ngày nay. Đó là một sự
    khởi đầu vĩ đại. Nhưng nhiều thế kỉ trôi qua, phần nhiều khoa
    học Ionia đã bị lãng quên – thỉnh thoảng đâu đó trong lịch sử,
    nó được khám phá trở lại hay phát minh ra trở lại.

    Theo truyền thuyết, công thức toán học đầu tiên của cái ngày
    nay chúng ta gọi là một quy luật tự nhiên có từ một con người
    thời kì Ionia tên gọi là Pythagoras (khoảng 580 tCN – khoảng
    490 tCN) , nhân vật nổi tiếng với định lí mang tên ông: bình
    phương cạnh huyền (cạnh dài nhất) của một tam giác vuông
    bằng tổng bình phương của hai cạnh còn lại. Sử sách kể rằng
    Pythagoras đã phát hiện ra mối liên hệ số học giữa chiều dài
    các sợi dây dùng trong các nhạc cụ và sự kết hợp hài hòa của
    âm thanh. Theo ngôn ngữ ngày nay, chúng ta sẽ mô tả mối liên
    hệ đó bằng cách nói rằng tần số – số dao động trong mỗi giây
    của một sợi dây dao động dưới một sức căng cố định tỉ lệ
    nghịch với chiều dài của sợi dây. Từ quan điểm thực tiễn, điều
    này lí giải vì sao đàn ghita bass phải có dây dài hơn đàn ghita
    thường. Pythagoras có lẽ không thật sự phát hiện ra điều này –
    và có lẽ ông cũng chẳng khám phá ra định lí mang tên ông –
    nhưng có bằng chứng cho thấy vào thời đại của ông, người ta
    đã biết tới một số liên hệ giữa chiều dài dây nhạc cụ và phách.
    Nếu đúng như vậy thì người ta có thể gọi công thức toán học
    đơn giản đó là thí dụ đầu tiên của cái ngày nay chúng ta gọi là
    vật lí lí thuyết.
    Ionia. Các học giả ở Ionia cổ đại nằm trong số những người
    đầu tiên lí giải các hiện tượng tự nhiên qua các quy luật của tự
    nhiên thay vì dựa trên thần thánh.

    Ngoài định luật dây đàn của Pythagoras ra, những định luật
    vật lí duy nhất được biết chính xác đối với người cổ đại là ba
    định luật được mô tả chi tiết bởi Archimedes (khoảng 287 tCN
    – khoảng 212 tCN) , nhà vật lí lỗi lạc nhất thời cổ đại. Theo
    thuật ngữ ngày nay thì định luật đòn bẩy lí giải rằng những lực
    nhỏ có thể nâng những đối trọng lớn vì đòn bẩy khuếch đại lực
    theo tỉ số của hai khoảng cách đến điểm tựa của đòn bẩy. Định
    luật sự nổi phát biểu rằng mọi vật nhúng trong một chất lỏng
    sẽ chịu một lực hướng lên bằng với trọng lượng của phần chất
    lỏng bị chiếm chỗ. Và định luật phản xạ ánh sáng thừa nhận
    rằng góc hợp giữa một chùm ánh sáng và gương bằng với góc
    hợp giữa gương và chùm tia phản xạ. Nhưng Archimedes
    không gọi chúng là những định luật, ông cũng không lí giải
    chúng theo kiểu liên hệ với sự quan sát và đo đạc.
    Thay vì thế, ông xem chúng như thể chúng là những định lí
    thuần túy toán học, trong một hệ tiên đề giống hệt như cái
    Euclid sáng tạo cho bộ môn hình học.
    Khi hệ tư tưởng Ionia lan rộng, ở Ionia xuất hiện những con
    người nhìn thấy vũ trụ có một trật tự bên trong, một trật tự có
    thể hiểu được thông qua quan sát và lí giải. Anaximander
    (khoảng 610 tCN – khoảng 546 tCN) , một người bạn và có lẽ
    là học trò của Thales, cho rằng vì con người lúc mới sinh ra
    không có khả năng tự tồn tại, cho nên nếu những con người
    đầu tiên bằng cách nào đó được mang đến trên trái đất lúc mới
    sơ sinh, thì loài người chẳng thể sống sót.
    Trong cái có lẽ là sự nhận thức mơ hồ đầu tiên về sự tiến hóa
    của nhân loại, như Anaximander lí giải, loài người phải tiến
    hóa từ những loài động vật khác có con nhỏ mới sinh cứng cáp
    hơn. Ở Sicily, Empedocles (khoảng 490 tCN –
    khoảng 430 tCN) đã quan sát công dụng của một thiết bị gọi là
    cái đồng hồ nước. Thỉnh thoảng được dùng làm môi múc
    nước, nó gồm một quả cầu có một cái cổ hở và những lỗ nhỏ
    dưới đáy. Khi dìm trong nước thì nước tràn đầy vào bên trong,
    và khi đó nếu như người ta đậy nắp cổ lại, thì có thể nâng
    đồng hồ nước lên mà nước bên trong không chảy ra ngoài.
    Empedocles để ý thấy nếu như bạn đậy nắp cổ lại trước khi
    dìm nó vào trong nước, thì nước không tràn vào bên trong

    đồng hồ nước được. Ông lí giải rằng một cái gì đó không nhìn
    thấy đã ngăn không cho nước tràn qua các lỗ nhỏ vào trong
    quả cầu – ông đã khám phá chất liệu ngày nay chúng ta gọi là
    không khí.
    Cũng khoảng thời gian trên, Democritus (khoảng 460 tCN –
    khoảng 370 tCN) , quê xứ thuộc địa Ionia ở miền bắc Hi Lạp,
    thì suy nghĩ về cái xảy ra khi bạn đập vỡ hay cắt một vật thành
    từng mảnh. Ông cho rằng bạn không thể nào tiếp tục quá trình
    đó một cách vô hạn. Thay vào đó, ông cho rằng mọi thứ, kể cả
    mọi sinh vật sống, cấu tạo từ những hạt cơ bản không thể nào
    phân tách hay chia nhỏ ra được nữa. Ông đặt tên cho những
    hạt vật chất tối hậu này là nguyên tử, theo từ nguyên Hi Lạp
    có nghĩa là “không thể chia cắt”. Democritus tin rằng mỗi hiện
    tượng vật chất là sản phẩm của sự va chạm của các nguyên tử.
    Theo quan điểm của ông, đặt tên là nguyên tử luận, tất cả các
    nguyên tử liên tục chuyển động trong không gian và, trừ khi
    có sự tác động, chúng chuyển động mãi mãi thẳng về phía
    trước. Ngày nay, quan điểm đó được gọi là định luật quán tính.
    Quan điểm mang tính cách mạng cho rằng chúng ta là những
    cư dân bình thường của vũ trụ, chứ chẳng phải giống loài đặc
    biệt hiện hữu tại trung tâm của vũ trụ, lần đầu tiên được bảo vệ
    bởi Aristarchus (khoảng 310 tCN – khoảng 230 tCN) , một
    trong những nhà khoa học Ionia cuối cùng. Chỉ một trong
    những tính toán của ông còn sót lại, đó là một phân tích hình
    học phức tạp của những quan sát tỉ mĩ của ông về kích cỡ của
    cái bóng của Trái đất in lên trên mặt trăng trong một kì nguyệt
    thực. Ông kết luận từ số liệu của ông rằng Mặt trời phải lớn
    hơn rất nhiều so với Trái đất. Có lẽ lấy cảm hứng từ quan điểm
    cho rằng những vật thể nhỏ bé phải quay vòng xung quanh
    những vật thể đồ sộ chứ không thể nào khác đi, nên ông trở
    thành người đầu tiên cho rằng Trái đất không phải nằm tại
    trung tâm của hệ hành tinh của chúng ta, mà thay vào đó, nó
    và các hành tinh khác quay xung quanh mặt trời lớn hơn
    nhiều. Đó là một tiến bộ nhỏ từ sự nhận thức trái đất chỉ là một
    hành tinh bình thường cho đến quan điểm rằng mặt trời của
    chúng ta chẳng có gì đặc biệt hết. Aristarchus nghi ngờ vào

    điều này và ông tin rằng các ngôi sao mà chúng ta thấy trên
    bầu trời đêm thật ra chẳng là gì ngoài những mặt trời ở xa.
    Quan niệm của người Ionia thuộc một trong nhiều trường phái
    triết học Hi Lạp cổ đại, mỗi trường phái có những truyền
    thống khác nhau và thường mâu thuẫn với nhau. Thật không
    may, quan điểm của người Ionia về tự nhiên – nó có thể giải
    thích qua những định luật tổng quát và giản luận thành một tập
    hợp những nguyên lí đơn giản – chỉ có sức ảnh hưởng mạnh
    trong vài ba thế kỉ.
    Một lí do là các lí thuyết Ionia thường có vẻ không có chỗ
    dành cho khái niệm tự nguyện hoặc mục đích, hay quan niệm
    thần thánh can thiệp vào sự hoạt động của thế giới. Đây là
    những thiếu sót đáng chú ý khiến nhiều nhà tư tưởng Hi Lạp
    cũng như nhiều người ngày nay lo ngại. Nhà triết học Epicurus
    (341 – 270 tCN) , chẳng hạn, đã phản đối nguyên tử luận trên
    thực tế là “tốt hơn nên tin tưởng vào thần thoại về các vị thần
    thay vì trở thành 'nô lệ' cho vận mệnh của các nhà triết học tự
    nhiên”. Aristotle cũng phản đối khái niệm nguyên tử vì ông
    không thể chấp nhận rằng con người sống cấu tạo từ những
    thứ vô tri vô giác, không có linh hồn. Quan niệm Ionia rằng vũ
    trụ không phải do con người làm chủ là một mốc son trong sự
    hiểu biết của chúng ta về vũ trụ, nhưng nó là một quan niệm bị
    người ta ruồng bỏ, và không thèm nhặt lại lần nữa, hay được
    chấp nhận rộng rãi, cho đến thời Galileo, gần hai mươi thế kỉ
    sau đó.
    Một số suy đoán của chúng về bản chất vũ trụ thật sâu sắc,
    nhưng đa số quan điểm của người Hi Lạp cổ đại không giành
    được sự thuyết phục là nền khoa học hợp lí trong thời hiện đại.
    Trước hết, vì người Hi Lạp đã không phát minh ra phương
    pháp khoa học, các lí thuyết của họ không được phát triển với
    mục tiêu xác nhận bằng thực nghiệm. Cho nên, nếu một học
    giả khẳng định một nguyên tử chuyển động theo một đường
    thẳng cho đến khi nó va chạm với một nguyên tử thứ hai và
    một học giả khác khẳng định nó chuyển động theo một đường
    thẳng cho đến khi nó rơi vào con mắt hỏng của người khổng lồ
    một mắt [trong thần thoại Hi Lạp] , thì chẳng có cách nào để
    phân giải ai đúng ai sai.

    Đồng thời, không có sự khác biệt nào giữa con người và các
    định luật vật lí.
    Chẳng hạn, vào thế kỉ thứ năm tCN, Anaximander đã viết rằng
    vạn vật phát sinh từ một chất cơ bản, và trở về với nó, để
    chúng đừng “mang cái tốt đẹp và cái bất lợi đến cho tội lỗi của
    chúng”. Và theo nhà triết học Ionia, Heraclitus (khoảng 535 –
    475 tCN) , mặt trời hành sự như thế vì nếu không thì thần công
    bằng sẽ bắn hạ nó xuống. Vài trăm năm sau đó, trường phái
    Stoic, một trường phái triết học Hi Lạp ra đời vào khoảng thế
    kỉ thứ ba tCN, thật sự đưa ra một sự khác biệt giữa những quy
    luật con người và các quy luật tự nhiên, nhưng chúng lại đưa
    những quy tắc làm người khi xem xét vạn vật – thí dụ như sự
    tôn sùng thần thánh và vâng lời cha mẹ – vào nhóm các quy
    luật tự nhiên. Ngược lại, chúng thường mô tả các quá trình vật
    lí theo ngôn từ luật pháp và tin rằng chúng cần phải được thúc
    ép, mặc dù các vật cần phải “tuân theo” những quy luật bất di
    bất dịch. Nếu bạn nghĩ rằng thật khó khiến người ta tuân thủ
    luật giao thông, thì hãy tưởng tượng việc thuyết phục một tiểu
    hành tinh chuyển động trong quỹ đạo hình elip thử xem.
    Truyền thống này tiếp tục ảnh hưởng đến các nhà tư tưởng kế
    tục Hi Lạp nhiều thế kỉ sau đó. Vào đầu thế kỉ thứ 13, nhà triết
    lí Cơ đốc Thomas Aquinas (khoảng 1225 – 1274) đã chấp
    thuận quan điểm này và dùng nó để biện luận cho sự tồn tại
    của Chúa. Ông viết “Rõ ràng [những vật vô tri vô giác] đi tới
    sự kết thúc của chúng không phải bởi sự tình cờ, mà là có mục
    đích… Vì thế, có một nhân vật sáng suốt nào đó mà thông qua
    bàn tay của người mọi thứ trong tự nhiên đi theo trật tự đến sự
    kết thúc của nó”. Đến tận thế kỉ thứ 16 sau này, nhà thiên văn
    vĩ đại người Đức Johannes Kepler (1571 – 1630) còn tin rằng
    các hành tinh có sự cảm thụ giác quan và tuân thủ có ý thức
    theo những quy luật chuyển động mà “trí tuệ” của chúng mách
    bảo.
    Quan điểm rằng các quy luật tự nhiên phải được tuân thủ có ý
    thức phản ánh tiêu điểm quan tâm của người cổ đại về nguyên
    do tạ i sao vũ trụ hành xử như thế, thay vì lí giải nó hành xử
    như thế nào. Aristotle là một trong những người đề xướng
    hàng đầu cho cách tiếp cận như thế, ông bác bỏ quan điểm

    khoa học xây dựng có nguyên tắc dựa trên sự quan sát. Vào
    thời cổ đại, phép đo chính xác và tính toán toán học trong mọi
    trường hợp đều là khó. Kí hiệu cơ số 10 mà chúng ta thấy tiện
    lợi trong số học chỉ mới ra đời vào khoảng năm 700 khi người
    Hindu bước những sải chân vĩ đại đầu tiên hướng đến việc
    biến toán học thành một công cụ đầy năng lực. Kí hiệu cho
    phép cộng và phép trừ vẫn chưa xuất hiện, mãi cho đến thế kỉ
    15. Và dấu bằng cũng như những chiếc đồng hồ có thể đo thời
    gian đến giây cũng không hề có trước thế kỉ 16.
    Tuy nhiên, Aristotle không nhìn thấy những vấn đề trong đo
    đạc và tính toán là những trở ngại cho sự phát triển của một
    nền vật lí có thể mang đến những tiên đoán định lượng. Không
    những vậy, ông còn thấy không cần thiết phải làm như thế.
    Thay vào đó, Aristotle đã xây dựng nền vật lí của ông dựa trên
    những nguyên lí thu hút ông về mặt trí tuệ. Ông bỏ đi những
    thực tế mà ông thấy không hấp dẫn và tập trung sự nỗ lực của
    ông vào những nguyên do mà vạn vật xảy ra, với công sức
    tương đối ít đầu tư vào lí giải chi tiết cái gì đang xảy ra.
    Aristotle thật sự đã điều chỉnh những kết luận của ông khi sự
    mâu thuẫn hiển nhiên của chúng với quan sát là không thể bỏ
    qua được. Nhưng những điều chỉnh đó thường là những lí giải
    đặc biệt chẳng gì hơn là lấp liếm đi sự mâu thuẫn. Theo kiểu
    như thế, cho dù lí thuyết của ông có trệch bao nhiêu so với
    thực tại, ông luôn có thể điều chỉnh nó vừa đủ để loại bỏ sự
    mâu thuẫn. Thí dụ, lí thuyết chuyển động của ông cho rằng
    những vật nặng rơi với tốc độ không đổi tỉ lệ với sức nặng của
    chúng. Để lí giải thực tế rõ ràng các vật có thể tăng tốc khi
    chúng rơi, ông đã phát minh ra một nguyên lí mới – rằng các
    vật hân hoan hơn, và vì thế tăng tốc, khi chúng càng đến gần
    chỗ nằm nghỉ tự nhiên của chúng, một nguyên lí ngày nay
    dường như là sự mô tả thông minh của những người nhất định
    chứ không phải của những vật vô tri vô giác. Mặc dù các lí
    thuyết của Aristotle thường có ít giá trị tiên đoán, nhưng cách
    tiếp cận khoa học của ông đã thống trị ở phương Tây trong
    hơn hai nghìn năm trời.
    Những hậu duệ Cơ đốc của người Hi Lạp bác bỏ quan điểm
    cho rằng vũ trụ bị chi phối bởi những quy luật tự nhiên không

    khác gì nhau. Họ cũng bác bỏ quan điểm cho rằng con người
    không giữ vị trí độc tôn trong vũ trụ đó. Và mặc dù thời trung
    cổ không có một hệ triết lí kết hợp nào, nhưng diện mạo chung
    là vũ trụ là sân chơi của Chúa, và tôn giáo đáng để nghiên cứu
    hơn là các hiện tượng tự nhiên. Thật vậy, vào năm 1277, đức
    giám mục thành Paris, theo chỉ dụ của Giáo hoàng John XXI,
    đã công bố danh sách 219 sai lầm hay dị giáo phải kết án.
    Trong số những dị giáo đó là quan điểm rằng tự nhiên tuân
    theo các quy luật, vì điều này mâu thuẫn với quyền năng của
    Chúa. Thật thú vị là vài tháng sau đó, chính Giáo hoàng John
    đã qua đời vì tác dụng của lực hấp dẫn khi mái trần tòa lâu đài
    của ông đổ sập lên người ông.

    “Nếu tôi học được cái gì đó trong triều đại lâu đời của mình,
    thì đó là nhiệt huyết đã dâng tràn”.
    Quan niệm hiện đại về những quy luật tự nhiên xuất hiện vào
    thế kỉ 17.
    Kepler dường như là nhà khoa học đầu tiên hiểu được khái
    niệm đó theo nghĩa khoa học hiện đại, mặc dù như chúng ta đã
    nói, ông vẫn giữ quan điểm duy linh về những đối tượng vật
    chất. Galileo (1564 – 1642) không sử dụng khái niệm “quy
    luật” trong đa số các tác phẩm khoa học của ông (mặc dù nó
    xuất hiện trong một số bản dịch của những tác phẩm đó). Tuy
    nhiên, cho dù ông có dùng từ đó hay không, thì Galileo thật sự
    đã làm sáng tỏ rất nhiều quy luật và chủ trương những nguyên
    lí quan trọng rằng quan sát là cơ sở của khoa học và mục đích
    của khoa học là nghiên cứu mối liên hệ định lượng tồn tại giữa
    những hiện tượng vật chất. Nhưng người đầu tiên xác lập rõ

    ràng khái niệm các quy luật của tự nhiên như chúng ta hiểu
    chúng là René Descartes (1596 – 1650).
    Descartes tin rằng mọi hiện tượng vật lí phải được giải thích
    theo sự va chạm của những khối lượng đang chuyển động,
    chúng bị chi phối bởi ba định luật – tiền thân của những định
    luật Newton nổi tiếng của chuyển động. Ông khăng khăng
    rằng những định luật tự nhiên đó có giá trị ở mọi nơi và mọi
    thời điểm, và phát biểu dứt khoát rằng sự tuân thủ những định
    luật này không có nghĩa là những vật đang chuyển động này
    có trí tuệ. Descartes còn hiểu tầm quan trọng của cái ngày nay
    chúng ta gọi là “các điều kiện ban đầu”. Những điều kiện đó
    mô tả trạng thái của một hệ vào lúc bắt đầu của khoảng thời
    gian bất kì mà người ta tìm cách đưa ra những tiên đoán. Với
    một tập hợp những điều kiện ban đầu cho trước, các định luật
    của tự nhiên xác định một hệ sẽ tiến triển như thế nào theo
    thời gian, nhưng nếu không có một...
     
    Gửi ý kiến

    Sách là một linh hồn, còn người đọc là những người sáng tạo nên cuộc sống. (Carl Sagan)

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG THCS BÌNH THANH - ĐỊNH HÓA - THÁI NGUYÊN !